Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

ĐỂ CÓ NƯỚC SẠCH SAU BÃO LŨ

A/ Xử lý nước và vệ sinh môi trường trước khi bão lụt:
1. Đối với nguồn nước:
  • Giếng đào: Dùng ni lông dày, không thủng phủ kín miệng giếng và buộc chặt bằng dây cao su.
  • Giếng khoan: Dùng ni lông dày, không thủng bịt kín vòi và cần giếng khoan bằng dây cao su.
2. Đối với nhà vệ sinh:
  • Nhà tiêu 2 ngăn: Lấy hết phân, đào hố sâu cách xa nguồn nước uống ít nhất 10m, ủ với vôi bột hoặc tro bếp sau đó lấp đất kỹ, trong hố tiêu cho vôi bột hoặc tro bếp vào trước khi đậy nắp.
  • Nhà tiêu tự hoại hoặc thấm dội nước: Chuẩn bị nút đậy chặt lỗ hố tiêu.
  • Nhà tiêu Chìm có ống thông hơi: Cho vôi bột hoặc tro bếp phủ kín lên bề mặt phân rồi lấp đất kín lại.
3. Chuồng gia súc:
Thu gom phân cho vào hố cách xa nguồn nước sinh hoạt ít nhất 10m, sau đó rãi vôi bột hoặc tro bếp phủ toàn bộ bề mặt rồi lấp đất kỹ.
B/ Xử lý nước sinh hoạt trong mùa lũ:
Trong mùa lũ lụt, trường hợp giếng bị ngập không có nước dự trữ thì phải lấy nước ngập lụt xử lý để sử dụng sinh hoạt theo 2 bước sau:
Bước 1: Làm trong nước
Dùng 1 gam phèn chua (tương đương một hạt ngô to) cho vào 20 lít nước, đánh tan phèn chờ 30 phút nước lắng cặn đến trong, nếu không có phèn chua thì dùng vải sạch để lọc.
Bước 2: Khử trùng nước
Đã làm trong bằng hoá chất Chloramine: dùng 1 viên Chloramine T hoặc B loại 250mg cho vào 25 lít nước. Khuấy đều cho tan hết lượng hoá chất, sau 30 phút mới sử dụng.
* Trong trường hợp khẩn cấp không có phèn chua làm trong nước thì tăng hàm lượng Chloramine B:
  • Nếu nước đục vừa: 15 - 20mg Chloramine B hoà tan trong 1lít nước hay 15-20gam Chloramine B (tương đương khoảng 1,5 - 2 thìa cà phê) hoà tan trong 1m3 nước.
  • Nếu nước đục nhiều: 20 - 50mg Chloramine B hoà tan trong 1lít nước hay 20-50 gam Chloramine B (tương đương khoảng 2 - 5 thìa cà phê hoà tan trong 1m3 nước.
Lưu ý: Không tiến hành đồng thời vừa làm trong nước vừa khử trùng bằng hoá chất.
C/ Xử lý nước và vệ sinh môi trường sau bão lụt:
1. Xử lý môi trường
  • Nước rút đến đâu huy động cộng đồng làm vệ sinh môi trường đến đó. Vì nếu không làm kịp thời thì sẽ khó đẩy được phù sa ra khỏi nhà, sân và đường đi.
  • Khi nước rút hết môi trường bị ô nhiễm nặng, có mùi tanh thối do xác súc vật, côn trùng, cây cối chết thối rữa... Do đó, cần phải khơi thông cống rãnh, lấp vũng nước đọng, chôn lấp xác súc vật và tẩy uế.
Về xử lý xác súc vật chết:
  • Khảo sát, ước lượng xác súc vật chết cần xử lý.
  • Chọn vị trí chôn xác súc vật ở ngoài đồng cách xa nguồn nước ít nhất 50m. Đào hố chôn xác súc vật ở độ sâu ít nhất phải trên 0,8m, đổ 3-5kg vôi bột hoặc phun Chloramine B nồng độ cao rồi lấp đất lèn chặt, rào kỹ lại tránh súc vật đào bới.
  • Khử trùng nơi có xác súc vật chết: Sau khi chuyển xác súc vật đi chôn phải phun thuốc khử trùng hoặc rải vôi bột nơi có xác súc vật chết. Nếu không có vôi, hoá chất khử trùng thì dùng rác khô đốt nơi súc vật chết. Hằng ngày phải kiểm tra nơi chôn xác súc vật xem có bị súc vật hoặc chuột bọ đào bới hay không. Nếu phát hiện có mùi hôi thối hoặc bị đào bới thì phải lấp lại ngay.
Dọn dẹp vệ sinh nhà cửa, phơi khô quần áo, không treo, mắc quần áo ẩm ướt vào một chỗ dễ làm nơi trú ẩn cho muỗi.

2. Xử lý nước sinh hoạt
Gồm 4 bước:
Làm trong nước bằng phèn chua ---------> Khử trùng nước bằng Chloramine----------> Đun sôi----------> Uống.
a. Đối với Giếng khơi: Tiến hành theo 3 bước:
* Bước 1: Thau rửa giếng:
  • Làm vệ sinh thành và nền giếng, khơi thông nước ngập lụt quanh giếng.
  • Trước khi làm trong và khử trùng nước, phải thau vét giếng, lấy hết bùn, rửa thành giếng.
* Bước 2: Biện pháp làm trong nước:
  • Dùng phèn chua liều lượng 50gam/1m3 nước, (1 gam phèn chua tương đương một hạt ngô to) nếu độ đục nhiều thì tăng lượng phèn chua nhưng tối đa 100gam/1m3.
  • Tán nhỏ, hoà tan hết phèn chua trong chậu.
  • Cho nước phèn chua vào gàu múc nước thả mạnh xuống giếng rồi kéo gàu lên xuống khoảng 10 lần, đợi 30 phút sau mới khử trùng nước.
* Bước 3: Biện pháp Khử trùng nước giếng:
  • Ước lượng nước trong giếng khoảng bao nhiêu m3 (1 bi tương đương 1m3) cứ 1m3 hoà tan 10 - 20gam Chloramine B tương đương 1 đến 2 thìa canh (tuỳ thuộc vào độ đục của nước).
  • Múc một gàu nước.
  • Hoà lượng hoá chất nói trên vào nước, phải khuấy đều cho tan hết hoá chất.
  • Thả mạnh gàu xuống giếng, kéo gàu lên xuống khoảng 10 lần.
  • Sau 30 phút múc nước lên ngửi có mùi Clo là dùng được. Nếu không ngửi thấy mùi Clo trong nước thì cho thêm khoảng 1/3 thìa canh bột Chloramine B quấy đều rồi cho vào giếng đến khi nào nước có mùi Chlo mới đảm bảo.
  • Dùng nước giếng này tưới lên thành giếng để khử trùng
  • Sau 30 phút mới sử dụng nước (phải đảm bảo lượng Clo dư (0,3 - 0,5mg/lít)).
(Nếu lỡ cho quá nhiều choloramine B thì đợi đến khi nào bay hết mùi chlo mới sử dụng).
Lưu ý:
  • Không tiến hành khử trùng đồng thời với đánh phèn.
  • Sau khi khử trùng nếu ngửi có mùi Clo thì việc khử trùng mới có tác dụng.
  • Nước sau khi đã làm trong, khử trùng vẫn phải đun sôi mới uống được.
b. Đối với giếng khoan:
  • Tháo dây cao su và ni lông bịt miệng giếng khoan.
  • Cọ rửa vòi, cần và nền giếng khoan.
  • Khơi thông cống rãnh quanh giếng.
  • Bơm hết nước đục, sau đó bơm liên tiếp 15 phút nữa bỏ nước đi sau đó mới sử dụng.
3. Đề phòng một số bệnh sau bão lụt
a. Phòng bệnh đau mắt đỏ:
  • Không lau rửa hoặc tắm nước bẩn.
  • Tra thuốc nhỏ mắt Cloramphenicol 0,4% cho tất cả những người có nguy cơ tiếp xúc với nước bẩn.
  • Không dùng chung chậu, khăn mặt.
b. Phòng bệnh ngoài da:
  • Không tắm, gội và giặt quần áo bằng nước bẩn.
  • Không mặc quần áo ướt.
  • Hạn chế lội vào chỗ nước bẩn. Nếu vì lý do nào đó phải lội vào nước bẩn thì sau đó phải rửa ngay bằng nước sạch và lau khô, đặc biệt là các kẻ ngón chân, tay sau đó bôi ngay thuốc đỏ hay thuốc sát trùng phòng nước ăn chân, tay.
c. Phòng các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ, thương hàn, SXH, sốt rét,... bằng cách:
  • Ăn chín, uống sôi, không ăn rau sống, nếu ăn thì phải rửa bằng nước đã khử trùng.
  • Nằm ngủ phải mắc màn.
  • Loại bỏ những vũng nước tù động vì đây là nơi trú ẩn, sinh hoạt và truyền bệnh của muỗi.
  • Tích cực diệt ruồi, muỗi, vệ sinh làng xóm, khơi thông cống rãnh...
Trên đây là các biện pháp xử lý nước và vệ sinh môi trường trước, trong và sau bão lụt, rất mong quý vị và các bạn chú ý thực hiện để bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Chúng tôi Hut ham cau quan 7
Hut ham cau go vap 
Hut ham cau tan binh 






Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Vệ sinh môi trường rất cần thiết trong đời sống và sinh hoạt con người, thế nhưng, hiện nay chúng ta đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm môi trường và khan hiếm nguồn nước sạch.
Một khi nguồn nước bị ô nhiễm sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm về đường tiêu hoá như tả, lỵ, thương hàn,…; và môi trường bị ô nhiễm sẽ gây ra hàng trăm bệnh khác nhau như bệnh hen, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mãn tính…. mà chi phí cho việc chữa trị các bệnh này rất cao, có khi kéo dài hàng tháng làm ảnh hưởng đến lao động và học tập.
Ngày nay với sự gia tăng nhanh về dân số, tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng đã làm tăng sự ô nhiễm nước và môi trường. Nguyên nhân là do sự xả rác thải, nước thải, chất thải từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), công nghiệp, giao thông vận tải, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người (bao gồm cả phân người) ngày càng tăng mà không được xử lý hoặc xử lý không đúng cách gây ô nhiễm đến nước và môi trường.
Môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe con người
– Nước và môi trường bị ô nhiễm trực tiếp hoặc gián tiếp làm lan truyền mầm bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe con người:
+ Nhóm các bệnh do Vi sinh vật: bao gồm các bệnh về đường tiêu hóa (tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy, viêm gan A, bại liệt, giun sán…), ngoài da, phụ khoa, mắt (đau mắt đỏ, mắt hột)… Đặc điểm của nhóm bệnh do vi sinh vật khả năng gây bệnh tùy thuộc độc lực của chúng và khả năng miễn dịch của cơ thể.
+ Nhóm các bệnh không có tác nhân Vi sinh vật: sẽ gây bệnh về da (Asen), gan ( Đồng), hệ thần kinh (thủy ngân, chì), nồng độ cao có thể gây ngộ độc… Đặc điểm các bệnh do hóa chất là độc tính của các hóa chất có tính tích lũy gây các bệnh mãn tính. Trừ những trường hợp nguồn nước bị ô nhiễm ngiêm trọng có thể gây ngộ độc cho người dùng nước.
Cách thu gom và xử lý rác
+ Đối với gia đình thì chúng ta nên: Quét dọn nhà cửa hàng ngày, đổ rác đúng nơi quy định, phân loại và thu gom vào nơi quy định để tái chế hoặc xử lý. Ở nông thôn có thể xử lý rác bằng cách chôn đốt, ủ làm phân bón.
Ở nơi công cộng: Phải chứa rác vào các thùng rác công cộng, hàng ngày có xe lấy rác tập trung đem đi xử lý.
+ Cách xử lý rác: Cách thủ công có thể chở đi đổ ở các bãi rác tập trung hoặc có thể phân loại rác thành 2 loại để có hướng xử lý khác nhau: rác hữu cơ được nghiền xử lý thành phân, chất đốt công nghiệp; rác vô cơ tái sản xuất thành nguyên liệu công nghiệp.
– Đối với phân người: chúng ta nên sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Theo quy định của Bộ Y tế có 4 loại nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh là nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu 2 ngăn ủ phân tại chỗ, nhà tiêu chìm có ống thông hơi sử dụng cho gia đình. Các nhà tiêu được đánh giá là hợp vệ sinh phải đảm bảo các tiêu chuẩn xây dựng và sử dụng bảo quản và phải đạt các tiêu chuẩn chung:
+ Cô lập được phân người, làm cho phân tươi hoặc chưa an toàn không thể tiếp xúc với người và động vật.
+ Tiêu diệt được các tác nhân gây bệnh có trong phân (virut, vi khuẩn, giun sán…) và không ô nhiễm môi trường xung quanh.
– Đối với chất thải chăn nuôi: Cần phải được thu gom hàng ngày, đưa đi ủ hoặc xử lý. Cách xử lý có thể dùng hố ủ phân sử dụng các chất độn (vôi bột, tro, trấu…) hoặc xây dựng hệ thống Biogas để xử lý phân, tận dụng tạo ra nguồn nguyên liệu.
Việc bảo vệ môi trường góp phần nâng cao điều kiện sống và sức khỏe con người, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, mọi người chúng ta cần chung tay bảo vệ môi trường để có nước sạch và môi trường xanh, sạch, đẹp; quan trọng là chúng ta không có bệnh tật.
Chúng tôi Rut ham cau quan 1
Rut ham cau quan 3





Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

Nhân viên vệ sinh môi trường là người làm việc cho một doanh nghiệp công lập hoặc tư nhân để thu thập, loại bỏ và góp phần tái chế rác thải từ dân cư, thương mại, công nghiệp. Công việc của họ là giúp bảo vệ môi trường sạch đẹp, giữ gìn cảnh quan cho xã hội.
Tuy vậy, người làm nghề vệ sinh môi trường thường phải đối mặt với một số rủi ro. Thống kê cho thấy thu gom chất thải là một trong những công việc nguy hiểm và độc hại nhất, đôi khi thậm chí còn nguy hiểm hơn cảnh sát làm việc. Người lao động thường xuyên tiếp xúc với các chất độc hại và phải chịu đựng khó khăn từ thời tiết nên nguy cơ mắc các bệnh về da liễu, nội khoa là rất cao. Vì vậy các nhân viên đều được trang bị dụng cụ lao động và dụng cụ bảo hộ lao động nhằm tránh tiếp xúc trực tiếp với rác thải, các chất độc hại. Mỗi năm công nhân vệ sinh môi trường được khám tổng thể sức khoẻ 2 lần.
 Nhân viên vệ sinh  môi trường làm gi?
– Đội duy trì quét đường vệ sinh môi trường
– Thu gom rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp theo xe tải 650kg và 750kg, hoặc tham gia thu dọn quét gom rác, cắt cỏ ven các trục đường trong địa bàn chịu trách nhiệm thu gom và giữ gìn vệ sinh.
+ Tổ chức thu gom rác thải
+ Phân loại rác thải, phế liệu
+ Vệ sinh đường phố
+ Vệ sinh các công trình công cộng, các công ty, xi nghiệp theo hợp đồng
+ Cắt tỉa cây cảnh, loại bỏ những cành cây gây cản trở tầm nhìn, an toàn giao thông và an toàn cho khu dân cư
+ Tập kết rác thải đến nơi quy định
+ Kiểm tra xe tải trước khi bắt đầu các tuyến đường để đảm bảo điều kiện vận hành an toàn, báo cáo sửa chữa các thiệt bị hỏng, tiếp nhiên liệu.
+ Lái xe đến những bãi thu gom rác, vận hành các thiết bị thug om rác thải.
+ Chở rác đến nơi tập kết quy định.
Nghề vệ sinh môi trường là nghề luôn có nhu cầu thường xuyên trong xã hội nhất là với tốc độ đô thị hóa như hiện nay.
Nhân viên vệ sinh môi trường có thể làm việc ở các công ty vệ sinh như: Công ty Dịch vụ Công ích, Công ty môi trường đô thị Hà Nội, Công ty CP MT&DVĐT Việt Trì, Công ty Môi trường đô thị Toàn Cầu… hoặc làm việc tại các khu vực có rác thải chủ yếu là các khu vực quanh thành phố hoặc các khu công nghiệp hay tại tất cả các doanh nghiệp, công ty, trường học…
Nhân viên vệ sinh thường làm việc bán thời gian theo ca. Thời gian làm việc thường được phân ca cụ thể như sau: ca sáng từ 6h đến 14h; ca chiều từ 15h đến 23h đêm. Mỗi công nhân được nghỉ 30 phút ăn cơm giữa ca. Cũng có khi khối lượng công việc lớn, người nhân viên vệ sinh môi trường phải làm việc tăng ca hoặc làm ngoài giờ hành chính.
thong cong nghet quan 11

Các yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước

Nước có vai trò quyết định sự sống. Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có tái tạo nhờ vòng tuần hoàn của nước. Tuy nhiên, nước cũng gây tai họa và tử vong cho con người khi nhiễm bẩn, bão lụt, hạn hán. Cách sử dụng nước hiện nay trong cộng đồng còn lãng phí rất lớn. Nhiều nơi người dân vẫn còn xem nước là nguồn tài nguyên vô tận và chưa thấy hết giá trị của việc thiếu hụt nguồn nước trong tình hình môi trường đang bị biến đổi, các nguồn nước đang ngày bị ô nhiễm và cạn kiệt.

Nước sạch và vệ sinh môi trường tác động nhiều đến sức khỏe con người. Ảnh: S.T
Nước sạch có thể được định nghĩa là nguồn nước: trong, không màu, không mùi, không vị, không chứa các độc chất và vi khuẩn gây bệnh. Tỷ lệ các chất độc hại và vi khuẩn không quá mức độ cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh của mỗi quốc gia. Ô nhiễm nước là sự biến đổi các thành phần của nước khác biệt với trạng thái ban đầu. Đó là sự biến đổi các chất lý, hóa, sinh vật và sự có mặt của chúng trong nước làm cho nước trở nên độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe con người do uống nước trực tiếp, sử dụng nước để sinh hoạt vệ sinh cá nhân hàng ngày.
Các yếu tố gây ô nhiễm  nguồn nước thường thấy gồm: Do ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước (chất độc hóa học, sự đốt cháy nhiên liệu trong sản xuất công nghiệp, chất thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt từ khu dân cư, bệnh viện, sử dụng hóa chất trừ sâu trong nông nghiệp…); Do nhiễm độc hóa chất vào nguồn nước trong quá trình sử dụng: như kim loại nặng (Chì (Pb), Đồng (Cu), Thạch tín (As), các chất phóng xạ, các chất gây ung thư vượt nồng độ tiêu chuẩn cho phép; Do vi sinh vật: 80% các bệnh nhiễm trùng liên quan đến nước (đặc biệt là các vi khuẩn gây nhiễm trùng đường ruột) ở các nước đang phát triển, khó khống chế và thanh toán như: các bệnh do virus, giun sán, côn trùng liên quan đến nước, các bệnh ngoài da, mắt… do dùng nước bẩn trong chế biến thực phẩm, ăn uống, vệ sinh cá nhân.
Các giải pháp về bảo đảm nguồn nước sạch và vệ sinh môi trường:
– Giữ sạch nguồn nước: Nâng cao ý thức cộng đồng để giữ sạch nguồn nước bằng cách không vứt rác bừa bãi, không phóng uế bậy, không thải trực tiếp vào nguồn nước sạch, không dùng phân tươi làm phân bón; sử dụng thuốc trừ sâu đúng hướng dẫn. Cần hạn chế tối đa việc sử dụng các hóa chất gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước .
– Tiết kiệm nước sạch: Giảm lãng phí khi sử dụng nước vào các sinh hoạt như nước dội vào nhà vệ sinh, tắt vòi nước khi đánh răng; kiểm tra, bảo trì cải tạo lại đường ống, bể chứa nước để chống thất thoát nước; dùng lại nguồn nước bể bơi, nước mưa vào những việc thích hợp như cọ rửa sân, tưới cây…
– Xử lý phân người: Vận động và ứng dụng tốt các giải pháp để xây dựng các loại cầu tiêu hợp vệ sinh (tự hoại,  bán tự hoại , hai ngăn, thấm dội nước)
– Xử lý phân gia súc ,động vật: Cần có kế hoạch thu gom với  hố ủ hợp vệ sinh , chuồng trại cách xa nguồn nước theo qui định vệ sinh, có nền không thấm nước.
– Xử lý rác sinh hoạt và chất thải khác: Cần có phương tiện chứa rác có nắp đậy kín, đủ sức chứa nhất là rác hữu cơ ở gia đình, khu tập thể cũng như nơi công cộng, đồng thời có biện pháp xử lý hợp vệ sinh không gây ô nhiễm nguồn nước.
– Xử lý nước thải: Cần có hệ thống xử lý nước thải do sinh hoạt (cống ngầm kín) rồi đổ ra hệ thống cống chung, đồng ruộng hoặc sông rạch sau khi đã được xử lý chung hoặc riêng. Nước thải công nghiệp, y tế  phải xử lý theo qui định môi trường trước khi thải ra cộng đồng.
Việc cung cấp nước sạch và đầy đủ là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ sức khỏe cho con người. Bảo đảm nguồn nước sạch và vệ sinh môi trường sẽ góp phần khống chế được 80% bệnh tật. Bảo vệ môi trường sống để phát triển bền vững phải luôn được thực hiện bằng việc bảo đảm nguồn nước sạch và làm tốt vệ sinh môi trường ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia.
Chúng tôi Hut ham cau quan 7
Hut ham cau go vap 
Hut ham cau tan binh